Bài đăng phổ biến

Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2012

Edmondo De Amicis – Những tấm lòng cao cả

Edmondo De Amicis – Những tấm lòng cao cả
image
Edmondo De Amicis (21 tháng 10, 1846-11 tháng 3, 1908) là một nhà văn, nhà báo và nhà thơ người Ý. Ông được biết điến với tác phẩm dành cho thiếu nhi nổi tiếng toàn thế giới Tấm lòng (Những tấm lòng cao cả).
Tiểu sử
De Amicis sinh tại Oneglia, thành phố biển Imperia của xứ Liguria, Italia. Ông vào trường quân đội ở Modena và trở thành sĩ quan trong quân đội của Vương quốc Italia mới.
Ông chiến đấu trong trận Custoza trong cuộc chiến giành độc lập lần thứ 3 trong hàng ngũ quân đội Italia chống lại đế quốc Áo. Thất vọng với thất bại của cuộc chiến dẫn đến việc ông rời bỏ quân ngũ. Sau khi rời quân ngũ ông viết về các trải nghiệm chiến trường trong quyển La vita militare ("Đời quân ngũ", 1868) tại Florence, đăng lần đầu trong tạp chí của Bộ quốc phòng Italia. Năm 1870 ông làm cho tạp chí La Nazione ở Roma, những trải nghiệm làm báo là cơ sở cho ông viết những tác phẩm du kí sau này mhư: Spagna (1873), Olanda (1874), Ricordi di Londra (1874), Marocco (1876), Costantinopoli (1878), Ricordi di Parigi (1879).
Các tác phẩm của De Amicis mang dấu ấn chủ nghĩa quốc gia yêu nước sâu sắc, về sau lại trộn lẫn với xu hướng dân chủ xã hội. Năm 1896 ông gia nhập Đảng Xã hội Italia.
Các tác phẩm về sau bao gồm: Sull’oceano (1889) viết về hoàn cành cực khổ của nguời Ý hải ngoại, Il romanzo di un maestro (1890), Amore e ginnastica (1892), Maestrina degli operai (1895), La carrozza di tutti (1899), L’idioma gentile (1905), and Nuovi ritratti letterari e artistici (1908.
Những năm cuối đời là những ngày khó khăn của De Amicis, cái chết của người mẹ gây nên cú sốc trong ông cộng với tình trang cãi vã liên miên với vợ (hậu quả dẫn đến việc người con thứ 2 tự tử vì đau khổ). Thời kì này ông sống biệt lập với bên ngoài cho đến khi mất năm 1908 tại Bordighera.
Những tấm lòng cao cả
image
Tấm lòng xuất bản ngày 17 tháng 10 năm 1886 là ngày tựu trường ở Italia. Ngay lập tức tác phẩm đạt được thành công vang đội, chỉ sau vài tuần đã có đến 40 phiên bản tiếng Ý, cũng như được dịch ra các thứ tiếng khác. Tác phẩm này chín là tác phẩm đưa De Amicis ra phạm vi toàn thế giới, khiến nhà văn vốn không chuyên viết cho thiếu nhi nổi tiếng trong làng các ấtc phẩm viết cho thiếu nhi. Một phẩn tác phẩm là sự phản ánh giai đoạn thiếu nhi của 2 người con trai ông.
Những tấm lòng cao cả hay Tâm hồn cao thượng (tiếng Ý: Cuore) là một cuốn tiểu thuyết trẻ em của nhà văn người Ý Edmondo De Amicis. Lấy bối cảnh trong lúc nước Ý đang thống nhất cũng như nói về đề tài yêu nước. Tiểu thuyết được xuất bản đầu tiên vào ngày 18 tháng 10, năm 1886, ngày khai trường ở Ý và trở thành một hiện tượng xuất bản ngay lập tức.
Xuyên suốt tiểu thuyết là những vấn đề xã hội như sự nghèo đói, Những tấm lòng cao cả cho thấy ảnh hưởng của tư tưởng chính trị cánh tả trong những tác phẩm của Amicis (ngay sau khi viết tác phẩm này ông gia nhập đảng xã hội Ý). Vì thế, cuốn sách vẫn còn có ảnh hưởng rất lớn ở nước thuộc khối phía Đông.
Cốt truyện và nhân vật
Tác phẩm được viết theo hình thức nhật kí của Enrico Bottini (là An Di trong bản dịch của Hà Mai Anh), một cậu học trò 10 tuổi học tiểu học ở Ý. Gia đình cậu thì thuộc tầng lớp thượng lưu trong khi các bạn cùng lớp lại xuất thân từ tầng lớp lao động. Cốt truyện diễn ra theo thứ tự thời gian xuyên suốt năm lớp 3 của Enrico.
Qua "Những tấm lòng cao cả", Amicis muốn gửi gắm đến các em thiếu nhi những bài học đạo đức sâu sắc cũng như vai trò quan trọng của nhà trường, cha mẹ trong việc dạy dỗ trẻ em.
Bản dịch tiếng Việt
Tác phẩm này có một số bản dịch tiếng Việt.
Bản tiếng Việt do Hoàng Thiếu Sơn dịch
Bản dịch đầu tiên với tựa đề Tâm hồn cao thượng do Hà Mai Anh dịch, bản dịch đoạt giải văn chương của Hội Alexandre de Rhodes tại Hà Nội năm 1948 [1] và rất phổ biến trong những thập niên 1950, 1960 và có lúc được trích đoạn dùng trong sách giáo khoa lớp 7 tại miền Nam trước 1975, đến nay vẫn còn được tái bản nhiều lần, mới nhất là bởi NXB Thanh niên tái bản lần thứ 7 năm 2008 (bỏ một số tiểu truyện) [2]
Một trong những bản dịch khác là Những tấm lòng cao cả do Hoàng Thiếu Sơn dịch, được Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành lần đầu năm 1977, được tái bản nhiều lần.
Nhà giáo Hà Mai Anh (1905-1975) và "Tâm hồn cao thượng" – Cuốn sách gối đầu giường của tuổi thiếu niên
Trong suốt hai thập kỷ 1940-1970 tại Việt Nam, dù chỉ là một tác phẩm dịch từ ngoại quốc, cuốn "Tâm Hồn Cao Thượng" đã có một chỗ đứng xứng đáng trong tủ sách giáo khoa tại các trường học và gây những ấn tượng sâu xa trong tuổi niên thiếu của thời đó. Nhà giáo Hà Mai Anh đã dịch cuốn sách này từ bản Pháp Ngữ "Grand Coeurs" nguyên bản bằng tiếng Ý của Edmondo de Amicis (triết gia 1846-1908) do nhà văn Piazzi dịch ra Pháp Văn. Tác phẩm này, vì giá trị giáo dục của nó đã được dịch ra 14 thứ tiếng và rất phổ biến trong tuổi thanh thiếu niên. Ðây là một tác phẩm thuộc loại ký sự, nhưng câu chuyện kể ngắn được sắp xếp trong 10 tháng, mỗi tháng có vài câu chuyện kể những công việc và biến cố tại trong lớp học hay giữa bạn bè, cùng một câu chuyện hằng tháng.
Tất cả nội dung của từng mỗi câu chuyện đều khêu gợi lên những tình cảm tốt đẹp của con người, không phải qua những lời giáo huấn khô khan, phân tích hay lý luận mà là qua những câu chuyện kể xẩy ra trong cuộc đời thường, mô tả những con người bình thường từ trong lớp học, gia đình cho đến ra ngoài xã hội hay xa hơn là chuyện của quê hương tổ quốc. Ðây là tấm gương sáng của những nhân vật bình thường quanh các em bé học sinh, chuyện một người bán than, một vị thầy mới, một anh học trò nghèo, một cậu bé yêu nước, một người tù, một người lính chữa lửa.. Trong xã hội ấy, có cái xấu cái tốt, có cái gian, cái ngay và Tâm Hồn Cao Thượng dạy cho thiếu niên biết thế nào là lòng tự trọng, sự khoan dung, lòng yêu nước, tính thật thà… thế nào là nghĩa hiệp, thế nào là lòng từ thiện.
Ðược đọc Tâm Hồn Cao Thượng khi còn ở tuổi tiểu học và mấy năm đầu trung học cho tới bay giờ đã hơn năm mươi năm, nửa thế kỷ trôi qua, tôi không thể bao giờ quên những cậu học trò nhỏ trong trường như An Di, Quyết Tư, Phan Tín… cùng thầy giáo Bích Niên, nhưng nhân vật như người bán than, cậu bé quết mồ hóng, ông thầy giáo cũ. Nội dung Tâm Hồn Cao Thượng đã dạy cho tuổi thiếu niên tấm lòng nhân ái, thương yêu, thông cảm với thế giới của những người thiệt thòi trong xã hội như những đứa trẻ mù. câm điếc, những người lao động lấm láp.
Ðậm nét nhất là những câu chuyện hằng tháng mà chúng tôi thích đọc hơn hết như câu chuyện "Lòng yêu nước của em bé thành Pa Ðu"," Chú lính đánh trống thành Xác Ðe", "Quê người tìm mẹ" hay "Ðắm tàu", cho chúng ta thấy toàn là những tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, sự hy sinh, tình mẫu tử.
"Tâm Hồn Cao Thượng" là một bản văn xuôi, nhẹ nhàng đầy âm diệu, mà ngày xưa các thầy cô giáo vẫn dùng làm những bài "học thuộc lòng" cho học sinh. Ðó là những đoạn văn về ngày tựu trường, học đường, lòng ái quốc với những lời văn nhẹ nhàng, thiết tha mà không bao giờ chúng ta quên được.
Có thể nói "Tâm Hồn Cao Thượng" có nội dung của một cuốn "Luân Lý Giáo Khoa Thư ", nhưng không rõ nét là những bài giảng lý thuyết, nó tiềm ẩn trong từng câu chuyện, khêu gợi là làm phát triển phần tốt đẹp trong mỗi tâm hồn đứa trẻ, làm cho con người hướng thượng, biết sống, suy nghĩ và làm những điều tốt đẹp. Những câu mở đầu trong những bức thư hay lời nói của Thầy Giáo, của Cha hay Mẹ bắt đầu bằng mấy tiếng gọi thân thương "An Di ơi!" đã để lại những ấn tượng tốt đẹp thời thơ ấu của một thế hệ, ngày nay đã bước vào tuổi già. Chúng ta mong mỏi tác phẩm này sẽ phổ biến rộng rãi trong quần chúng và nhất là trong lớp tuổi trẻ, để hy vọng cho những thế hệ mai sau sẽ trở thành những con người tử tế, nhân hậu trong một xã hội tốt đẹp hơn hiện nay.
Dịch giả cuốn "Grand Coeurs" (Tâm Hồn Cao Thượng) là ông Hà Mai Anh, một nhà giáo. Ông sinh năm 1905 tại tỉnh Thái Bình Bắc Việt trong một gia đình văn học, ông cụ đỗ cử nhân dưới triều vua Thành Thái. Ông đậu bằng Cao Ðẳng Tiểu học và trường Sư Phạm, từng làm giáo học và Hiệu Trưởng các trường ở Sơn Tây, Nam Ðịnh, Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh và sau năm 1954 ở Saigon, ông là Hiệu Trưởng trường Tiểu Học Trần Quí Cáp. Hà Mai Anh còn dùng các bút hiệu Mai Tuyết và Như Sơn. Ông đã làm trợ bút cho nhiều tờ báo từ Bắc đến Nam và ông đã soạn nhiều sách giáo khoa cho bậc tiểu học về Việt Văn và Toán.
Phải nói đây là một nhà giáo yêu nghề và nghĩ tới thế hệ trẻ. Ông tin rằng văn hóa có thể giáo dục và cảm hóa, biến đổi con người. Trong suốt ba mươi năm làm nghề giáo, ông đã dành thời gian để dịch thuật 13 tác phẩm:
Tâm Hồn Cao Thượng, Grand Coeurs của Edmond de Amicis, giải văn chương của Hội Alexandre de Rhodes Hà Nội 1948.
Gia Ðình, Sans Familles của Hector Malot (Giải I Dịch thuật 1970)
Trong Gia Ðình, En Famille của Hector Malot.
Về với Gia Ðình, Roman Kabris của Hector Malot.
80 Ngày Vòng Quanh Thế Giới, Le Tour Du Monde en 80 Jours của Jules Verne.
Guy-Li-Ve Du Ký. Voyages de Gulliver của Swiff.
Hoàng Kim Ðảo, L’ile Au Trésor của R. L. Stevenson
Con Voi Chúa, Po Lorn, L’éléphant của R. Campbell.
Chuyện Trẻ Em, Contes de Perrault của Charles Perrauls.
Cầu Vồng Trong Ruộng Lúa, Arc-En-Ciel dans Les Rizière của Rosy Chabbert.
Thuyền Trưởng 15 Tuổi, Le Capitain de 15 Ans của Jules Verne.
Thuật Tàng Hình của Vi- Liêm, Le Secret de Wilhelm Storitz của Jules Verne.
Dòng Sông Tráng Lệ, Les Superbe Orénoque của Jules Vern.
Em Bé Bơ Vơ, Oliver Twist của Charles Dickens.
Trừ tác phẩm cuối cùng chưa được xuất bản, mười hai cuốn trên đều đã được ấn hành và làm say mê không những cho con trẻ mà cả người lớn tại hai miền Nam Bắc, trước và sau năm 1954 chia cắt đất nước. Ðây là những tác phẩm nổi tiếng của thế giới thuộc loại giáo dục, và phiêu lưu mạo hiểm, rất bổ ích cho việc giáo dục tuổi thiếu niên. Nhà giáo Hà Mai Anh và gia đình đã di cư hai lần. Lần thứ nhất ông rời đất Bắc vào Saigon năm 1954. Lần thứ hai ông rời Việt Nam ngày 28 tháng 4 năm 1975 và sang định cư tại Hoa Kỳ. Ông từ trần ngày 20 tháng 8 năm 1975 tại San Bernadino Hoa Kỳ, hưởng thọ 70 tuổi.
Cảm nhận truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O. Henry
O. Henry
Mùa thu lại trở về. Những cánh rừng như thay màu áo mới, đỏ dần, rồi tràn ngập sắc thu vàng lộng lẫy. Mặt đất từng lớp từng lớp phủ lá dầy lên dầy lên mãi… Có bước chân ai xào xạc trên lá khô, không phải gió, không phải chú nai vàng, cũng không phải của một người lang thang đi tìm kỷ niệm, mà là của thời gian.

Thời gian dường như dừng lại lâu hơn ở mùa thu, vì mãi vương vấn những chiếc lá vàng muộn màng còn sót lại của một mùa đẹp. Tiếng mưa thu rơi tí tách trên lá.
Cứ nhắc đến những chiếc lá vàng mùa thu tôi lại nhớ đến câu chuyện cảm động mà nhà văn O. Henry đã kể. Chuyện đọc đã từ rất lâu rồi, vẫn cứ làm vương vấn mỗi độ thu về. Cũng như Guy de Maupassant, những câu truyện của O. Henry nổi tiếng vì kết cuộc bất ngờ, nhưng có hậu hơn.
Câu chuyện kể về Cô Johnsy một họa sĩ bị mắc căn bệnh nan y, cô đếm từng chiếc lá rụng của tàn cây trường xuân ngoài cửa sổ. Cô tin rằng khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống cũng là lúc cô chết. Chiếc lá giả là một tác phẩm kiệt xuất của cụ già hàng xóm Behrman, ông cụ đã vẽ nó vào cái đêm chiếc lá cuối cùng đã rụng. Chính chiếc lá này đã làm cho nghị lực và mầm sống trong cô gái hồi sinh. Cô gái đã thoát khỏi cái chết bằng một niềm tin mãnh liệt.
Một cô gái đang nằm trên giường bệnh đếm những ngày còn lại cuối cùng của cuộc đời. Hình ảnh cuộc sống duy nhất mà cô nhìn thấy mỗi ngày là từ nhánh dây leo trường xuân bên ngoài khung cửa sổ. Những chiếc lá vàng rơi dần theo mùa thu trôi. Năm, bốn, ba, hai, một … Khi chiếc lá cuối cùng rơi rụng thì cô cũng sẽ vĩnh viễn xa rời thế gian này. “Trên cõi đời này, cái cô độc nhất là một linh hồn đang chuẩn bị sẵn sàng để đi xa trên hành trình bí ẩn của nó”…(The lonesomest thing in all the world is a soul when it is making ready to go on its mysterious, far journey.)

Và cô gái đau đớn chờ đợi giây phút cuối cùng của mình đang đến.
Cửa sổ mở, một buổi sáng lại bắt đầu. Chiếc lá cuối cùng vẫn còn đó. Sự tồn tại của chiếc lá bé nhỏ sau cơn giông tố suốt đêm qua giúp cô gái thêm sức mạnh chống chọi lại với cơn bệnh của mình.
- Lá ơi, sao chiếc lá yếu ớt dường kia lại có thể phấn đấu chống lại mưa gió để tồn tại trên cõi đời này? Còn ta, ta là ai? Sao ta lại buông xuôi, thụ động chờ đợi ngày cuối cùng đến với mình? Số phận là gì? Ta có thể vượt qua số phận được hay không?…
Sự thật, đó là một kiệt tác của một người họa sĩ già, cô độc và “không thành công trong nghệ thuật” dù đã “bốn mươi năm cầm cọ mà vẫn không chạm được đến gấu áo Nữ thần của mình” (Bergman was a failure in art. Forty years he had wielded the brush without getting near enough to touch the hem of his Mistress’s robe.)
Kiệt tác duy nhất và cuối cùng của cuộc đời người họa sĩ già đó, chỉ là một chiếc lá. Chiếc lá bé nhỏ cứu sống một con người. Chiếc lá thể hiện một tâm hồn cao thượng, nhân đạo cao cả khó tìm thấy trên thế gian này.

Dù sao, trong đời người họa sĩ già cô độc ấy, cuối cùng ông cũng đã toại nguyện vì đã làm nên một kiệt tác. Chiếc lá hẳn được vẽ rất đẹp, rất xuất thần bằng tất cả tấm lòng của người họa sĩ đến nỗi cô gái đã tưởng đó là chiếc lá cuối cùng thật sự, đem lại cho cô tràn đầy niềm tin yêu ao ước được sống. Và cuối cùng, cô đã sống. Nhưng để giữ cho chiếc lá vàng cuối cùng tồn tại, thì một con người lại phải ra đi mãi mãi:
“Bạn ơi, hãy nhìn chiếc lá nho cuối cùng trên bờ tường ngoài cửa sổ kìa! Ông ấy đã vẽ chiếc lá ấy vào cái đêm chiếc lá cuối cùng lìa cành”…(Look out the window, dear, at the last ivy leaf on the wall.. He painted it there the night that the last leaf fell!)
Tôi cũng chỉ ao ước trong đời, sẽ có lần mình vẽ được chiếc lá ấy…

Triệu Minh và Chỉ Nhược: Bản lĩnh đàn bà

Triệu Minh và Chỉ Nhược: Bản lĩnh đàn bà
Một nửa của Quận chúa Mông Cổ Triệu Mình là Vô Kỵ
Một nửa của Chưởng môn Nga My cũng là Vô Kỵ.
Trương Vô Kỵ là gã đàn ông nào mà diễm phúc đến vậy? Đó là giáo chủ Minh Giáo tuổi trẻ tài cao, thừa võ công nhưng thiếu quyết đoán. Trước hai người đẹp, chàng thấy khó lòng, ngần ngại. Nàng nào cũng… hoàn cảnh, chàng bỏ thì thương vương thì tội!
Ngồi bên Chỉ Nhược chàng luôn nhớ đến Triệu Minh.
Ở cạnh Triệu Minh chàng lại thấy có lỗi với Chỉ Nhược (bó tay chàng luôn!)

Làm thân đàn ông (thời nào cũng vậy), có trên hai người đàn bà đã có thể gọi là… khổ rồi. Huống gì hai mỹ nhân của chàng lại không phải hạng nữ nhi tầm thường. Triệu Minh thông minh sắc sảo (có phần thâm độc), Chỉ Nhược thâm trầm khó đoán (có phần bí hiểm). Nàng nào cũng đáng sợ. Còn chàng coi bề ngoài mạnh mẽ như tùng, như bách vậy chứ tâm tính yếu mềm tựa liễu, tựa hoa, gió lay là đổ.

Mà lòng dạ đàn bà trong cơn ghen có khác chi bão tố cuồng phong! Ai cũng muốn kéo chàng về phía mình:
… Chỉ Nhược đâm chàng một nhát kiếm suýt mất mạng trên Quang Minh đỉnh, Triệu Minh cho chàng sụp hầm không có đường ra. Hai khúc dạo đầu lãng mạn ấy luôn khiến chàng lạc hồn mất vía mỗi khi hồi tưởng…
… Triệu Minh đòi theo chàng ra Linh Xà đảo tìm nghĩa phụ Tạ Tốn, dĩ nhiên là có “nàng hầu” Tiểu Siêu xinh đẹp. Giữa đường Chỉ Nhược đột ngột xuất hiện. Tưởng thế đã yên, nào ngờ ra đảo thêm Hân Ly góp mặt. Chàng không biết các nàng có… “sướng” không chứ chàng thấy chuyến đi đó là khổ ải nhất!
…Chỉ Nhược giết Hân Ly, đoạt cả đao lẫn kiếm rồi giá họa cho Triệu Minh. Chàng lúc ấy không rõ thực hư nên tin, còn thề độc sau này đối với Triệu Minh sẽ "gặp đâu giết đó". Nhưng khi gặp lại, nghe nàng thỏ thẻ vài câu chàng lại xiêu lòng, chẳng những không giết mà còn cứu nàng thoát khỏi tay đám Cái Bang
… Thấy chàng và Triệu Minh thân thiết, Chỉ Nhược phẫn uất… tự vẫn. Cứu được nàng rồi (chàng tưởng thế), chàng hối hận quá nên ngỏ ý muốn lấy nàng để bảo bọc phần đời còn lại.
Nàng Triệu Minh chẳng vừa gì và "không muốn bó tay"!
…Khi phu thê chuẩn bị giao bái thì Triệu Minh đột ngột xuất hiện. Đi một mình. Nàng ngang nhiên tiến về phía Vô Kỵ, xòe tay cho chàng xem một vật gì đó và yêu cầu… hủy hôn lễ. Sau đó nàng ung dung bỏ đi. Ván cờ này nàng nắm chắc phần thắng vì vật nàng cầm trên tay đối với Vô Kỵ có ý nghĩa hơn tất cả mọi thứ trên đời. Đó là tóc của Tạ Tốn (nghĩa phụ mà chàng hết sức yêu quí).
Dĩ nhiên là Vô Kỵ phải bỏ tân nương đuổi theo nàng!
Chỉ Nhược đứng chết lặng. Mưu sâu kế rộng của nàng hóa ra không thoát khỏi lòng bàn tay của quận chúa Triệu Minh. Ngay khi con người đó xuất hiện, nàng biết, mình đã thua.
Mạnh mẽ, dứt khoát, nàng tháo tấm khăn cưới xuống, cũng là lột bỏ luôn lớp cô nàng hiền thục nết na. Bản chất nàng không phải là người yếu đuối, sao lại phải tỏ vẻ ngoan hiền trước đấng nam nhi! Bắt đầu từ đây, nàng đã là một con người khác, độc ác và thủ đoạn, tàn nhẫn với chính bản thân mình!
Phải chăng trong cái lỗi lầm của Chỉ Nhược, có một phần là do Vô Kỵ mà ra? tại chàng thiếu quyết đoán trong chuyện tình cảm nên đã làm lỡ dở cuộc đời nàng. Nàng vì yêu quá hóa hận, càng hận càng sai. Nào phải nàng không biết quay đầu là bờ, nhưng có ai chờ đợi nàng ở nẻo đường đơn độc đó! Nên nàng cứ dấn thân bước tới. Sai lầm thì phải trả giá, đó cũng là lẽ thường tình. Nàng thừa bản lĩnh gây ra thì cũng đủ can đảm để gánh chịu.
Về điều này thì Vô Kỵ còn lâu mới với tới được bản lĩnh mạnh mẽ dứt khoát của hai nàng. Bởi vì so với cái tính khẳng khái trong tình yêu của Chỉ Nhược và Vô Kỵ, chàng hóa ra… rất tầm thường. Chàng luôn do dự. Làm thân nam nhi trai tráng mà không biết khi nào thì cầm lên, khi nào thì bỏ xuống!
…Một đêm gió lớn trăng mờ, khi tàn cuộc chiến trên phái Thiếu Lâm, Triệu Minh đột nhiên mất tích. Giữa lúc chàng đang hoang mang rối trí cùng cực thì Chỉ Nhược xuất hiện. Trước trời đất, trước nàng, nàng muốn chàng thành thật với lòng. Trong 4 người: Nàng, Triệu Minh, Hân Ly và Tiểu Siêu, chàng yêu ai?
Câu hỏi này chàng đã tự vấn nhiều lần!!!. Và chàng trả lời:
… Với Hân Ly, chàng chỉ có tình huynh muội. Khi Hân Hy chết, chàng thấy đau xót nhưng vẫn có thể tiếp tục sống…
…Với Tiểu Siêu, chàng chỉ có lòng trắc ẩn. Khi Tiểu Siêu về Ba Tư, chàng rất buồn nhưng rồi cũng nguôi ngoai…
…Với Chỉ Nhược, chàng dành rất nhiều tình cảm. Khi thấy nàng đi vào con đường lầm lạc, chàng tiếc là không thể khuyên nàng quay lại…
… Riêng với Triệu Minh, thật ra lòng chàng từ lâu đã có câu trả lời. Nhưng vì những khác biệt về thân phận, những hiểu lầm giữa đôi bên nên chàng còn ngại ngần chưa dám bước tới. Nay khi mọi sự đã an bài, bão đã tan, mưa đã tạnh, giang hồ đã lặng sóng thì chàng mới soi rọi được lòng mình: chàng yêu Triệu Minh. Nàng là tất cả lẽ sống của chàng!
… Trong bóng tối, có một người mỉm cười sung sướng. Câu nói của Vô Kỵ như làn gió mát xua tan những bực dọc nàng phải gánh chịu khi vô cớ bị Chỉ Nhược điểm huyệt bắt đến đây. Trước mắt Chỉ Nhược, nàng không ngại ngần, ngã vào vòng tay của Vô Kỵ đang mở rộng. Hạnh phúc biết bao khi được ở cạnh người mình yêu!
Một lần nữa, Chỉ Nhược đứng chết lặng. Ván cờ trước nàng dày công sắp đặt nhưng vẫn bị Triệu Minh phá vỡ. Ván cờ này nàng không đánh mà thua. Sao cuộc đời nàng cứ phải thảm bại dưới tay người phụ nữ này!
Đành rằng trong tình yêu, những toan tính từ lý trí cuối cùng rồi cũng sẽ nhường chỗ cho tiếng nói của con tim. Nhưng đến bao giờ trái tim mới lên tiếng! Có người bỏ cuộc giữa chừng trong mòn mỏi, cũng có kẻ kiên nhẫn đeo đuổi đến cùng mới hóa ra chỉ là chạy theo ảo ảnh phù du. Hạnh phúc trong tình yêu nào phải từ trên trời rơi xuống! Muốn có phải tự tranh đấu chứ ngồi đó "há miệng chờ sung" thì e rằng "nợ" chưa đến mà "duyên" đã bị kẻ khác cướp đi!
Thật ra Chỉ Nhược lợi thế hơn Triệu Minh rất nhiều. nàng thông minh, xinh đẹp, vừa có tuyệt học võ công lại vừa được lòng danh môn chánh phái. Nhưng trong cuộc chiến … giành Vô Kỵ, nàng thua. Vì nàng không hiểu tâm lý đàn ông! Cũng là thủ đoạn đấy nhưng với Triệu Minh thì Vộ Kỵ thấy yêu còn với Chỉ Nhược chàng chỉ có cảm giác kính sợ!
Tất cả những gì có thể làm để níu giữ một người đàn ông, nàng đều đã thực hiện. Đâm chàng một nhát kiếm khắc cốt ghi tâm trên Quang Minh đỉnh, giả vờ yếu đuối cần chàng chở che, tự đả thương mình trên đảo Linh Xà để được chàng săn sóc, bày kế tự vẫn khiến chàng hối hận quay về… Khi hạnh phúc tưởng đã trong tầm tay thì lại bị Triệu Minh … lấy mất. Nàng quận chúa thông minh đó tay không tấc sắt mà dám nhảy vào đại điện phá hôn lễ vì biết chắc bên Vô Kỵ, nàng được an toàn. Nàng hiểu Vô Kỵ! Hiểu rõ trong lòng chàng, nàng có chỗ đứng!
Cuộc đời con người, thành hay bại suy cho cùng đều không nằm ngoài chữ "biết". Tình yêu cũng không là ngoại lệ. Giành lấy tình cảm nhất thời của một người đàn ông từ tay người đàn bà khác, không khó. Nhưng để được cùng người mình yêu hưởng thứ hạnh phúc lứa đôi thì phải đau tim nhức óc tính toán chứ nào phải phó mặc cho hai chữ duyên phận!
… Bởi có người phụ nữ biết cách lèo lái tình yêu nên mới có gã đàn ông cam tâm tình nguyện giao cả cuộc đời cho nàng tùy nghi sử dụng. Gác kiếm giang hồ, gã cầm bút lên …"…Từ đây về sau, ngày ngày Vô Kỵ này sẽ vẽ chân mày cho ái thê Triệu Minh…"

Dương Tiêu – Kỷ Hiểu Phù: mối tình không hối tiếc

Dương Tiêu – Kỷ Hiểu Phù: mối tình không hối tiếc
Có một câu chuyện tình tuy nhỏ, tuy ngắn ngủi nhưng lại rất hay, rất lãng mạn, rất đau lòng mà ai khi xem qua bộ Ỷ thiên Đồ long ký đều biết, đó là chuyện tình của nữ hiệp xinh đẹp phái Nga Mi Kỷ Hiểu Phù và chàng tả sứ Dương Tiêu đẹp trai lắm tài.
Kết quả mối tình là đứa con gái Dương Bất Hối. Chỉ cái tên thôi cũng đủ nói lên một điều, điều làm cho mọi người khi hay biết tội trạng của Hiểu Phù đã xảy ra hai trường hợp. Hoặc giận điên cuồng như Diệt Tuyệt Sư thái, như chị em đồng môn trong phái Nga Mi. Hoặc ngậm ngùi thương cảm như Trương Vô Kỵ, như hầu hết các anh em Minh giáo. Bất Hối là đứa con kết tinh bỡi tình yêu vô cùng xinh đẹp và bất tử của đại diện hai phái chánh tà, một nữ hiệp phái Nga My được gọi là chính phái và một tả sứ uy quyền của Minh giáo, một giáo phái bị gọi bỉ báng là Ma giáo.
Dương Tiêu – Kỷ Hiểu Phù, mối tình được nhắc đến cực ít trong truyện nhưng lại tạo được ấn tượng cực kỳ sâu sắc. Dương tả sứ là người đàn ông nhiều tài lại rất phóng khoáng, chỉ một ngón đàn cũng đủ làm thao thức lòng người. Dương Tiêu từ ngạc nhiên, thú vị đến thương cảm và yêu tha thiết cô nương xinh đẹp dịu dàng. Bằng vào địa vị của ông, tìm một cô gái đẹp không là điều khó, nhưng để tìm một tri kỷ hồng nhan, Dương Tiêu đã phải mất bao nhiêu công sức để có được Kỷ Hiểu Phù. Có Hiểu Phù trong tay, ông hết sức nâng niu trân trọng. Khi Hiểu Phù quyết định ra đi, Dương Tiêu không chịu để mất đi người phụ nữ mình đã quá dấu yêu, ông dùng thủ đoạn để Hiểu Phù mãi mãi là của ông, đó là cái suy nghĩ vừa thực tế vừa khờ khạo của người đàn ông khi đã quá say đắm, ông quên mất một điều: Hiểu Phù đâu chỉ có một mình ông.
Vâng. Hiểu Phù không chỉ có Dương Tiêu, dù trái tim cô đã trao trọn cho người đàn ông mà chỉ trong một thời gian ngắn đã đầy ắp yêu thương, không như bao nhiêu năm cô sống trên đỉnh Nga My với một sư tỷ Mẫn Quân luôn luôn dèm xiểm, với một sư phụ chỉ biết diệt cho tuyệt, với một mớ chị em tự xưng là nữ hiệp mà cứ ngẩn ngẩn ngơ ngơ ra vào vô cảm. Hiểu Phù còn có cái cô được nhồi nhét, được học thuộc lòng là chính nghĩa, là tiêu diệt cái ác, là đạo nghĩa với sư phụ, là luật lệ, môn quy. Cô bị trói trong cái mớ bòng bong đó trong bao nhiêu năm trời, những vết trói đã hằn trong cô đến nỗi mơ ngũ cũng vẫn thấy cùng sư phụ đi tiêu diệt tà ma ngoại đạo. Cô đâu có thể nào một sớm một chiều quên được những điều cô đã được giáo dục trong bao nhiêu năm. Và người đàn ông mà chính tự trong trái tim cô đã đong đầy yêu thương lại là một người cô phải có trách nhiệm tiêu diệt: Một tà ma ngoại đạo.
Minh giáo hay Ma giáo, chính hay tà tôi không nói ở đây, điều tôi muốn nói là cái tình sâu nặng giữa hai nhân vật đầy ắp yêu thương, đau đớn này. Yêu thương vì họ hoàn toàn có thể thuộc về nhau, vì dù cho Hiểu Phù có hứa hôn với Ân Lục hiệp thì cũng chẳng qua cô vâng lời sư mẫu, vào cái thời quân – sư – phụ, cái thời đặt đâu ngồi đó thôi chớ trái tim cô chưa trao gởi cho ai. Yêu thương vì một tả sứ uy dũng như Dương Tiêu, vừa đẹp trai vừa đàn hay hát giỏi lại phong lưu tiêu sái thì thiếu chi các cô nương mê đắm, can gì Dương tả sứ lại say mê cô gái thuộc phe phái đối lập chi cho sinh rắc rối. Nhưng tình yêu – trò chơi nguy hiểm – nó vốn thế. Nó phải éo le, nó phải ngạo ngược, nó phải hành cho con người ta chết lên chết xuống – cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen – đớn đau đến tận cùng mới trọn vẹn được cái chữ tình.
Diệt Tuyệt sư thái không vướng bận chữ tình, cả đời bà chỉ mơ tiêu diệt Ma giáo, diệt cho tuyệt. Cho nên bà không thể hiểu được tình là gì, không thể nắm lấy bàn tay đứa học trò yêu để san sẻ cho cô chút sức mạnh hầu thắng vượt cái khối u tình mà Hiểu Phù đang mang. Chị em phái Nga My người thì ganh tỵ như Mẫn Quân, người lại quá vô tâm để cho Hiểu Phù một thân nuôi con dại bao nhiêu năm sau mới biết. Điều đó chứng tỏ đồng môn phái Nga My vào giai đoạn đó mặc kệ ai biết thân ai, người ta chỉ chăm chăm làm thế nào để được sư phụ truyền y bát, để đợi chờ một chức trưởng môn. Lạt lẽo như vậy, đơn côi như vậy, nhạt nhòa như vậy bảo sao Hiểu Phù không gục ngã trong tình yêu của người đàn ông phong lưu anh tuấn.
Nhưng đời nó lại không chỉ có tình yêu đôi lứa, và người ta phải lựa chọn tình yêu cùng nhiều thứ khác. Hỏi tại sao y không đi tìm Kỷ Hiểu Phù. Thật ra y có biết tình cảm của nàng đối với y ra sao đâu? Kỷ Hiểu Phù với sự dằn vặt tột đỉnh vì đã phản bội hôn ước với Hân Lê Đình, và phản bội sư môn (lầm lỡ với kẻ thù của Nga My là người Minh giáo) làm sao có thể tỏ bày tình cảm của nàng đối với y? Thế là y đi. Y rời nàng có lẽ cũng nghĩ rằng y sẽ quên nàng nhanh chóng thôi. Lý trí bao giờ cũng cho rằng chỉ một lần qua đêm thì làm sao có thể có tình yêu được? Nhưng y lầm, và có lẽ nàng cũng không bao giờ nghĩ rằng nàng lại yêu một người đã cưỡng bức mình như thế.
Thương cho Kỷ Hiểu Phù. Thương cho cô gái một thân một mình vừa phải chiến đấu với chính bản thân, vừa phải nuôi dấu đứa con gái nhỏ. Trong con mắt phái Nga My, Hiểu Phù là hình ảnh một loại nữ nhi ngu khờ dại dột để cho phải mang lấy một nghiệp chướng. Nhưng theo tôi Hiểu Phù mới thực sự là người phụ nữ bản lĩnh, bản lĩnh vì đã thắng vượt chính trái tim mình, thắng mà không bao giờ hối hận. Hiểu Phù đã biết Dương Tiêu là một người có uy quyền lớn trong Minh giáo, nếu như người khác cô đã chẳng ngại ngần gì về làm Dương tả phu nhân. Nhưng trong cô cái đạo nghĩa chánh tà đã phân rõ rệt, cô yêu không hối hận nhưng cô không để cho mình đi theo con đường mà cô đã được dạy là gian tà. Cô tránh né Dương Tiêu, đồng nghĩa với tránh né nhà cao cửa rộng, bạc tiền châu báu, danh vọng uy quyền. Cô bằng lòng chấp nhận cuộc sống cơ cực, những phút giây hiếm hoi gần bên con gái, thắng vượt trái tim mình một cách dũng mãnh.
Thương cả cho Dương Tiêu. Những tháng ngày sống bên người con gái dấu yêu quá ngắn. Hơn ai hết ông hiểu rõ sự ngăn cách giữa ông và Hiểu Phù. Nhưng trái tim muôn đời vẫn có những lý do của nó, mặc dù đó là những lý do đỏng đảnh, ngớ ngẩn và ngạo mạn. Dương tả sứ ngẩn ngơ tìm mãi con cá mà ông không giữ được, con cá cứ to dần lên mỗi ngày để ông say đắm thổi mãi khúc sáo tương tư khi chiều về từ ngày nọ sang tháng kia. Cho đến một ngày ông nhìn thấy Kỷ Hiểu Phù qua bóng hình con gái ông: Dương Bất Hối. Để ông biết rằng mãi mãi hồng nhan tri kỷ của ông đã không bao giờ còn trở lại, và trái tim ông lần nữa lại bị bóp chặt, bị nghiền nát, bị vây khổn trong ngọn lửa tình đau đớn mà ông không bao giờ dập tắt được trong suốt cuộc đời.
Kỷ Hiểu Phù mất có nghĩa là trái tim Dương Tiêu cũng hóa đá. Đã không ai có thể thay thế được hồng nhan tri kỷ của Dương Tiêu cho đến ngày ông nhắm mắt. Một mối tình không lâu, không có cơ hội bền vững, không có một kết thúc tốt đẹp mà thành một khối u tình đẹp vĩnh viễn. Phải chăng câu hát “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở” là một minh chứng cho tình yêu này. Riêng tôi, tôi cho rằng giữa những lọc lừa, những âm mưu, những thủ đoạn xảy ra trong bộ truyện dài tập Ỷ thiên Đồ long ký, mối tình Dương Tiêu – Hiểu Phù là biểu dương cho một tình yêu đẹp nhất, chân thành nhất và đau đớn nhất.
Dương Tiêu không có lỗi gì cả. Y cũng không hối hận đâu. Có hối, thì hối tại sao năm xưa y lại không nhận ra tình cảm của mình sớm hơn? Nhưng nếu y có nhận ra tình cảm sớm hơn thì nàng cũng không chịu đi theo y cơ mà. Mối tình của hai người, từ khi nó bắt đầu đã là một mối tình vô vọng. Vô vọng bởi chính tính cách và bản thân của hai con người yêu nhau. Y – một người kiêu ngạo không bao giờ chịu cúi mình van xin tình yêu của người khác, chỉ biết ôm mối tình trong mộng mà si tâm vọng tưởng. Nàng – một đồ đệ hiếu thảo coi sư phụ như trời, chỉ biết mang hình bóng người thương gửi gắm vào đứa con gái ngây thơ chưa từng biết mặt cha.
Y, và nàng, cả hai người đều không có lỗi. Và họ có lẽ cũng chưa từng hối hận. Tình yêu đến, khi nó đến, nhưng khi nó đã đi rồi thì người ta mới có thể cảm nhận hết được vị ngọt lẫn vị đắng mà nó đem lại.
tamtay.vn - photo - ♥¸.•’´¯) ¸,ø¤°“°¤ø,¸(¯`’•.¸ ♥ AnH? DoNg DeP Ne ♥¸.•´¯) ¸,ø¤°“°¤ø,¸(¯`’•.¸♥

Tình yêu không thất lạc

Tình yêu không thất lạc
Nơi tôi làm việc, nhìn ra một không gian xanh ngắt, mỗi hoàng hôn, ánh đèn rực lên từ những khu thương mại xa xa, trông tựa như những tòa lâu đài trong chuyện cổ tích. Những cây thông lớn được đem ra trang trí, nhìn cảnh các công nhân đu bám giăng đèn kết hoa, sao mà giống cảnh những chú chuột và chú chim loay hoay, lăng xăng may áo cho nàng lọ lem đi dự hội …
Những ngày này, sáng sớm, trời lạnh và sương giăng mắc. Không phải là thứ sương mù mịt, mà chỉ là những dải khói lãng đãng như tơ trời, chiều về, khi trời đã sấm tối, sương lại kéo về thả một làn khói mờ ảo trên những ngọn đèn đường … Tôi thường đi thật chậm, lắng nghe tiếng thời gian hòa lẫn tiếng nhạc dìu dặt, và miên man trong dòng nhớ …
Không phải tơ trời, cũng chẳng phải sương mai, có một thứ còn mong manh hơn nữa … Vậy mà nó đã trói loài người vào một mối ràng buộc tự nguyện và miên viễn…
Đã bao nhiêu lần tôi nghĩ về bài thơ ấy, và những gì nó chuyên chở đến cho con người, đã rưng rưng cố giữ lại để giọt nước mắt không rơi. Mong manh lắm, tơ trời, sương mai, chiếc cốc pha lê, ngọn sóng … Mong manh lắm, nhưng lại có thật. Chỉ là làm cách nào ta giữ đựơc những thứ ấy … Để rồi nhận ra rằng, ta không thể nào giữ, nếu chỉ một mình ta muốn … Lại càng không thể, khi chỉ một chút vụng dại lơ đãng vô tâm, chiếc cốc đã vỡ tan …
Điều khiến nó càng mong manh hơn, là khi con người đã đi qua giông bão biển bờ, đã có ngàn lần mất mát, mới hiểu thế nào là tình yêu. Chiếc- cốc- pha- lê –tình- yêu không phải là vật trang trí. Để thành pha lê long lanh trong suốt thì những hạt cát đã phải qua nhiệt độ như thế nào. Vậy mà nó vẫn cứ mong manh, có khi bởi chính người cầm nó, có khi chỉ vì một viên đá vô tình lỡ tay, có khi chỉ vì một tính toan bất chợt …
Nếu không có những giông bão biển bờ ấy, mấy ai hiểu rằng yêu là không chịu bất cứ một ràng buộc nào, tự nguyện, dâng hiến, chấp nhận và thứ tha. Nhưng trách nhiệm và bổn phận thì trùng trùng ràng buộc…
Có khi con sóng chỉ muốn xô bờ, mà hiểu rằng, đó chỉ là sự ích kỷ, sóng đành lòng dạt ra khơi xa ..
Mong manh hơn cả tơ trời và sương mai, nhưng không bao giờ là hư ảo, bởi người đã từng dìu người lên khỏi hố sâu, băng qua những gập ghềnh bất trắc để đưa người về với niềm tin yêu, bằng những lắng nghe trong âm thầm, bằng tin cậy trao nhau từ trái tim rộng mở…
Có một lần mất mát, mới thương người đơn độc” .
Không phải tơ trời nên cột nhau đến ngàn sau. Không phải sương mai nến cứ lấp lánh mãi chẳng tan… Biết là quý giá đến vậy, nhưng ai đã từng đớn đau vì tình yêu, mới hiểu rằng không thể để người mình yêu thương sẽ phải mất mát đớn đau, vì người xứng đáng đựơc nhận những hạnh phúc giản đơn như nụ cười cho nhau mỗi bình minh, những tựa vai ấm áp yên bình lúc hoàng hôn, chứ không phải là những chờ mong khắc khoải, những đêm dài thăm thẳm… Bởi cuộc đời này là rất ngắn…

Và cho dẫu mai sau có xa lìa, dẫu có phải buộc lòng để tình yêu thất lạc, ta vẫn còn đó, trong nhau, một tình yêu trong vắt như pha lê…
Không phải tơ trời, không phải sương maiMong manh nhất không phải là tơ trời
Không phải nụ hồng
Không phải sương mai
Không phải là cơn mơ vừa chập chờn đã thức
Anh đã biết một điều mong manh nhất
Là tình yêu
Là tình yêu đấy em !
Tình yêu,
Vừa buổi sáng nắng lên,
Đã u ám cơn mưa chiều dữ dội
Ta vừa chạy tìm nhau…
Em vừa ập vào anh…
… Như cơn giông ập tới
Đã như sóng xô bờ, sóng lại ngược ra khơi…
Không phải đâu em, không phải tơ trời
Không phải mây hoàng hôn
Chợt hồng … chợt tím …
Ta cầm tình yêu như đứa trẻ cầm chiếc cốc pha lê
Khẽ vụng dại là… thế thôi … tan biến…
Anh cầu mong, không phải bây giờ
Mà khi tóc đã hoa râm
Khi mái đầu đã bạc
Khi ta đã đi qua những giông – bão – biển – bờ
Còn thấy tựa bên vai mình
Một tình yêu không thất lạc.
(Đỗ Trung Quân)

Thái Thanh, Lời Ru của Mẹ

Thái Thanh, Lời Ru của Mẹ
Tiểu Sử Ca Sĩ THÁI THANH



Tên thật: Phạm Thị Băng Thanh
Ngày sinh: 1934
Thể loại nhạc: Nhạc tiền chiến, tình khúc 1954-1975
Thành công với nhạc: Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Văn Cao
Ca khúc thành công: Tình ca, Hòn vọng phu, Hội trùng dương, Con đường cái quan, trường ca Mẹ Việt Nam
Ban nhạc: Ban Thăng Long

Thái Thanh là một ca sĩ Việt Nam nổi tiếng, được mệnh danh “tiếng hát vượt thời gian”. Thành danh ở miền Nam từ cuối thập niên 1950, tiếng hát Thái Thanh gắn liền với nhạc của Phạm Duy và nhiều ca khúc tiền chiến khác. Bà đã tạo ra một “trường phái” riêng, ảnh hưởng tới nhiều giọng ca thế hệ sau như Mai Hương, Quỳnh Giao, Ánh Tuyết…Bà được xem như một trong những giọng ca tiêu biểu nhất của tân nhạc Việt Nam.
Thái Thanh, tên thật Phạm Thị Băng Thanh, sinh năm 1934. Xuất thân trong một gia đình truyền thống âm nhạc, thân phụ của bà là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông sinh được 2 người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm là ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long.
Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy; con trai thứ, nhạc sĩ Phạm Đình Chương, tức ca sĩ Hoài Bắc; và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh.
Thái Thanh bắt đầu sự nghiệp ca hát khi mới 13, 14 tuổi trong những năm kháng chiến chống Pháp, lúc nhỏ bà tự luyện tập giọng hát theo lối chầu văn, hát chèo. Năm 1951, Thái Thanh cùng gia đình chuyển vào Sài Gòn. Tên tuổi Thái Thanh trở nên lẫy lừng từ thập niên 1950 cho đến những ngày cuối của miền Nam Việt Nam. Tiếng hát của bà ngự trị trên khắp các chương trình ca nhạc truyền thanh cũng như truyền hình. Cùng với Thái Hằng, Hoài Bắc, Hoài Trung, Phạm Duy, Khánh Ngọc (vợ nhạc sĩ Phạm Đình Chương) lập nên ban hợp ca Thăng Long nổi tiếng. Giọng ca Thái Thanh cũng từng gắn bó với vũ trường Đêm Mầu Hồng vào những năm đầu 1970.
Tiếng hát Thái Thanh gắn liền với nhạc Phạm Duy. Thái Thanh cũng là giọng ca hàng đầu của dòng nhạc tiền chiến, bà đã gây nên những ảnh hưởng tới nhiều ca sĩ của dòng nhạc này như Mai Hương, Ánh Tuyết…
Thái Thanh lập gia đình với tài tử Lê Quỳnh vào khoảng giữa thập niên 1950, nhưng hai người đã chính thức ly dị khi người con gái đầu lòng là ca sĩ Ý Lan mới được 8 tuổi. Năm 1985 Thái Thanh rời Việt Nam và định cư tại Hoa Kỳ. Tại hải ngoại bà tiếp tục trình diễn (bắt đầu từ đêm diễn Thái Thanh – Đêm Tái Ngộ năm 1986) và ghi âm một số CD với Trung tâm Diễm Xưa. Hai con gái của bà Ý Lan và Quỳnh Hương cũng là những ca sĩ nổi tiếng. Thái Thanh giải nghệ năm 2002, nhưng đến năm 2006, bà lại xuất hiện trên sân khấu chương trình “Thái Thanh và ba thế hệ”.
Bà có tất cả 5 con – 3 gái, 2 trai – và 12 cháu nội ngoại, bà cho biết sẽ không về Việt Nam an hưởng tuổi già.
Băng nhạc, CD Thái Thanh
Trước 1975
Từ khoảng cuối thập niên 1950 đến 1975, Thái Thanh thâu âm rất nhiều trên đĩa than 78 vòng, đĩa nhựa 45 vòng, băng Akai của các hãng đĩa Việt Nam, Tân Thanh, Sơn Ca, Shotguns, Thanh Thúy, Phạm Mạnh Cương, Trường Sơn, Continental, Diễm Ca, Song Ngọc, Nhật Trường, Trường Hải, Nghệ Thuật – Tâm Anh…
* 01. Băng nhạc Thanh Thúy 7: Tiếng Hát Thái Thanh
* 02. Chương trình Nhạc Tuyển Selection 1: Tiếng Hát Thái Thanh
* 03. Sơn Ca 10: Tiếng hát Thái Thanh và Ban hợp ca Thăng Long (1975)
* 04. Tơ Vàng 4: Thái Thanh – Tiếng Hát Vượt Thời Gian (1971)
* 05. Tiếng hát Thái Thanh 2
* 06. Tiếng hát Thái Thanh 3
* 07. Băng nhạc Mười bài đạo ca (1972)
Phát hành sau 1975
* 08. Thái Thanh – Phạm Duy (1976)
* 09. Shotguns 10: Tiếng hát Thái Thanh (1980)
* 10. Dạ Tâm Khúc: Tiếng hát Thái Thanh
Không kể những CD sưu tập bởi Trung tâm Hương Xưa
Sau 1975
Thu âm từ 1985 đến 2003
* 11. Ngày xưa Hoàng Thị (1986)
* 12. Quê hương và kỷ niệm (1987)
* 13. Đêm màu hồng (1988). Thái Thanh, Ý Lan, Thanh Loan, Quỳnh Hương, Lê Đại
* 14. Chiều về trên sông (1988)
* 15. Đêm nhớ trăng Sài Gòn (1990)
* 16. Hội trùng dương (1993)
* 17. Dòng thời gian – Thái Thanh và 3 thế hệ (2004)
Thái Thanh, Lời Ru của Mẹ
Cách đây đã hơn ba chục năm, khi viết về Thái Thanh với lời xưng tụng “Tiếng Hát Vượt Thời Gian”, Mai Thảo không ngờ rằng chính lời phán xét ấy đã vượt thời gian. Thái Thanh hát từ đầu thập niên 1950 và sau thập niên 1970, tiếng hát ấy vẫn vang vọng thêm hai thập niên nữa. Và còn mãi mãi trong tâm tư chúng ta.

Trong nửa sau của thế kỷ 20, tiếng hát Thái Thanh đã là di sản không thể mất của rất nhiều người Việt. Nó nổi trôi theo mệnh nước, thấm vào tâm tư chúng ta để thành tiếng hát tiêu biểu nhất từ thời phôi thai của tân nhạc cải cách, trải qua thời chiến tranh cho đến thời lưu vong và tàn tạ. Nếu chúng ta có thể thấy hạnh phúc và hãnh diện với tân nhạc Việt Nam thì thời kỳ nhiễu nhương nhất của lịch sử, từ những năm 1950 đến 1970, là thời kỳ đẹp nhất và trong giai đoạn ấy, Thái Thanh là một tiếng hát không thể quên được.



Mỗi người lại thưởng thức nghệ thuật Thái Thanh theo một cách, tùy theo tâm tư và hoàn cảnh. Riêng với tôi, nếu Anh Ngọc là “giọng hát trượng phu” thì Thái Thanh là “lời ru của mẹ”. Thật ra, ngày còn nhỏ, tôi chưa biết thích tiếng hát của bà. Dường như trẻ thơ không thích cách diễn tả thê thiết, đau đớn như thế. Lúc đó, những giọng hát trong trẻo, kỹ thuật cao, một đòi hỏi không thể thiếu trong các đài phát thanh, hát những bài ca ngợi tình người và tình đời với những màu xanh, màu hồng mới là hay. Như Kim Tước với “Mộng đẹp ngày xanh”, Mai Hương với “Em tôi” hay Mộc Lan với “Nhớ nhung”, hoặc Châu Hà với “Thương tình ca” là loại tiếng hát thổi lên những giấc mơ đẹp, bình an và thiết tha tình yêu thái hòa. Sau một cuộc đời lăn lóc trong xã hội, tôi mới đủ trưởng thành để thích giọng hát Thái Thanh và thích nhất ở những ca khúc bà hát về quê hương, về tình nhân loại, về nhân thế.

Thái Thanh trong loạt “đạo ca” do Phạm Duy phổ thơ Phạm Thiên Thư là lúc tiếng hát tròn đẹp về tình mẹ và về triết lý của cuộc đời. Thái Thanh trong những ca khúc về chiến tranh mới diễn tả hết nỗi bi thương của con người trong thời chinh chiến. “Kỷ vật cho em” hay “Khi tôi về” là loại tiêu biểu. Nhưng nghe Thái Thanh, tôi luôn nghĩ đến vai trò lớn nhất mà cũng là vai trò trọn vẹn nhất của bà: vai trò của người mẹ. Ở giọng hát của Thái Thanh, tình yêu còn quá nhẹ. Bà ngợi ca tình yêu mà như hát cho người chứ không phải cho mình. Trong thập niên 1960 – 1970, khi nhạc tình của Việt Nam lên tới những đỉnh cao không còn thấy nữa, nhờ Phạm Duy, Trịnh Công Sơn hay Phạm Ðình Chương, thì Thái Thanh của “Ngày ấy chúng mình” đã hát cho mọi cặp tình nhân trên đời. Nhưng, Lệ Thu hay Khánh Ly vẫn có mặt và tỏ tình thay cho rất nhiều người.Trước đấy, khi dân ca được Phạm Duy cải biên để từ thôn quê chinh phục thành phố và thúc giục mọi người cùng hát “Em bé quê”, “Vợ chồng quê” để thương xót quê nghèo, Thái Thanh đã sớm góp tiếng và có mặt. Nhưng, Thái Thanh có dáng dấp và phong cách tinh tế và hiện đại hơn vậy, nên cũng trường cửu hơn vậy, khi người ta không còn nhớ gì về dân ca thời kháng chiến. Chỉ ở những bài về tình mẹ, Thái Thanh mới thực sự hát cho chính mình và cho đời sau. Tôi cảm thấy như thế khi nghe bà hát “Bà mẹ Gio Linh”, hay “Lời ru, bú mớm, nâng niu” của Phạm Duy.
Cũng thế, Phạm Duy nhắc đến người mẹ rất nhiều trong các ca khúc của ông, và hồi ký về tuổi thơ của ông chỉ có mẹ hiền, mà thiếu vắng hình ảnh của người cha. Chúng ta lại hiểu thêm vì sao giọng hát của Thái Thanh lại gắn liền với ca khúc Phạm Duy. Người Pháp có câu: “văn là người”. Tôi cũng nghĩ như thế, giọng hát là người. Thái Thanh có tiếng hát đẹp, như trường hợp của Kim Tước hay Ánh Tuyết, Mộc Lan, Châu Hà. Nhưng Thái Thanh lại khác hẳn mọi người ở khả năng phát âm rất rõ lời. Thái Thanh có sự bén nhạy thiên phú để hát mạch lạc từng câu từng chữ, với âm sắc hoàn toàn Việt Nam. Cái “hồn Việt” chúng ta nói đến trong tiếng hát của bà được bắt gặp trước tiên ở cách hát cho rõ lời. Cũng vì vậy, đòi Thái Thanh hát nhạc ngoại quốc là chưa bắt được cái “thần” của bà. Thái Thanh là người hoàn toàn Việt Nam từ cốt tủy. Và hát hay nhất các ca khúc về mẹ. “Bà mẹ Gio Linh” của Phạm Duy không thể nào sống mãi trong chúng ta, dù chiến tranh đã tàn, nếu không có cách diễn tả của Thái Thanh, “Giọt mưa trên lá” cũng thế. “Tình ca” cũng vậy. Ngay trong tiếng nức nở về tình yêu và chinh chiến, từ “Buồn tàn thu” xa xưa đến “Kỷ vật cho em” hay “Bài hương ca vô tận” về sau, Thái Thanh vẫn làm chúng ta rùng mình không vì nỗi lòng thiếu nữ mà là tâm tư của thiếu phụ. Rồi bỗng thương xót đàn con thơ. Ai cũng có thể hát nhạc tình dù chẳng cần quặn quại trên sân khấu, và ai cũng có thể hát về quê hương hay chiến tranh, nhưng chỉ có Thái Thanh mới khiến chúng ta bùi ngùi về người mẹ. Trước khi trở thành mẹ hiền, hay mẹ già, biết bao phụ nữ thời ấy đã là người tình, đã có những rung động e ấp của tuổi thanh xuân. Nhưng tất cả đều bị dồn nén, xóa nhòa, để chỉ rưng rưng còn lại là lòng mẹ. Thái Thanh diễn tả được nỗi niềm ấy khiến người nghe thấy ra một bất công lớn với phụ nữ, đối với chính người mẹ của mình.

Tôi yêu tiếng hát Ngọc Lan

Tôi yêu tiếng hát Ngọc Lan







Có nhiều người bạn của tôi tỏ ra ngạc nhiên khi thấy tôi mê giọng hát Ngọc Lan.



Sự thực chính tôi cũng ngạc nhiên về tôi vậy.



Tôi có thể nghe Ngọc Lan hát liền mấy tiếng đồng hồ không ngừng. Ngồi trên xe hơi nghe Ngọc Lan, về nhà nghe Ngọc Lan, làm việc cũng nghe Ngọc Lan!



Thật là một hiện tượng kỳ lạ đối với tôi. Không phải tôi mới bắt đầu nghe tân nhạc Việt Nam mới đây; tôi nghe tân nhạc từ hồi Thái Thanh,Thái Hằng, Hà Thanh... và sau này Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Lan... Nhưng chưa bao giờ tôi nghe một giọng ca một cách say mê trong nhiều giờ như vậy. Vẫn biết Thái Thanh được mệnh danh là: "Tiếng Hát Vượt Thời Gian", Lệ Thu với những nhạc phẩm bất hủ như "Lá Đổ Muôn Chiều", "Đêm Đông"... Khánh Ly nổi tiếng với nhạc Trịnh Công Sơn, nhưng tôi chưa nghe ai say mê như nghe Ngọc Lan. Tại sao vậy?



Thường thì tôi trả lời vắn tắt với bạn bè là mỗi người có một "gout". Nhưng sự thực chỉ có phải "gout" không thôi hay lý do tại sao tôi "mê" giọng hát Ngọc Lan phức tạp và sâu xa hơn nhiều?



Tôi nghĩ lý do chính và thứ nhất là trời cho Ngọc Lan một giọng ca ngọt ngào, sang trọng và quyến rũ. Ngoài cái giọng ngọt ngào thiên phú Ngọc Lan hát tự nhiên, êm dịu, mềm mại, dễ dàng như nói như thở, không cầu kỳ giả tạo. Giọng cô có cái sang trọng (élégance) khó tìm thấy ở một ca sĩ khác.






Cách đây ít lâu một anh bạn trẻ nói với tôi là giọng Ngọc Lan "chua". Chua? Tôi nghĩ hoặc trời cho anh này một thính giác đặc biệt khác người hoặc anh có thành kiến nặng với Ngọc Lan vì tôi chưa nghe ai phê bình giọng Ngọc Lan "chua" bao giờ. Nhiều người bạn tôi cũng thường có thành kiến với ca sĩ trẻ mới nổi tiếng như vậy. Theo họ phải nghe Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly.. hát tân nhạc, hoặc phải nghe Thanh Lan hát nhạc Pháp mới "chì", mới là biết nghe nhạc. Công bình mà nói, một thời gian dài tôi cũng đã có thành kiến như vậy. Tôi còn nhớ hồi cuối thập niên 80 tôi nghe đồn ở California có một nữ ca sĩ trẻ nổi tiếng tên Ngọc Lan. Tôi có thành kiến với các ca sĩ trẻ mới nổi tiếng vì nghĩ họ là các ca sĩ choi choi chỉ thích hát nhạc trẻ, nhạc giật gân làm sao hát hay bằng những Thái Thanh, những Lệ Thu, những Khánh Ly, Thanh Lan.... được. Và vì có thành kiến như vậy tôi không tìm hiểu thêm về Ngọc Lan và tiếp tục nghe các ca sĩ trước 1975. Sau này khi khám phá ra cái lầm của mình thì đã muộn.



(Thành ra bây giờ tôi sợ dẫm phải vết bánh xe cũ nên khi nghe đồn có ca sĩ trẻ nào nổi tiếng là tôi tìm nghe. Nhưng cho tới nay tôi chưa thấy một giọng nào có thể làm tôi say mê như giọng Ngọc Lan cả.)



Như nói ở trên Ngọc Lan hát một cách dễ dàng và tự nhiên như nói như thở,



Nhưng tôi không hoàn toàn đồng ý với ai nói Ngọc Lan hát không có kỹ thuật. Cô không dùng kỹ thuật để làm cho giọng mình giả tạo nhưng ngược lại cô dùng kỹ thuật để làm cho giọng mình thật tự nhiên với cách lấy hơi, khi nào lấy hơi và cách ngân cũng như cách xuống giọng của cô. Muốn thấy cái hay và cái tuyệt vời của giọng Ngọc Lan phải nghe một bản nhạc đã cùng được Ngọc Lan và một vài ca sĩ khác hát để so sánh . Đó cũng là phương pháp tôi dùng để thuyết phục một số người khi tôi cho họ nghe "Còn Một Chút Quà Cho Quê Hương", "Dĩ Vãng", "Mưa Trên Biển Vắng" vv..vv.... do Ngọc Lan và một vài ca sĩ nổi tiếng hát mà tôi đã thâu trên một CD để dễ so sánh.. Tôi đã thành công rất nhiều lần.



Nhiều người có thể không thích giọng Ngọc Lan hoặc không thích nghe giọng Ngọc Lan bằng giọng các ca sĩ khác nhưng tôi nghĩ nếu họ đã nghe một số tối thiểu những bản nhạc do Ngọc Lan hát họ phải đồng ý với tôi về những đặc điểm sau đây của giọng Ngọc Lan mà tôi nghĩ không ca sĩ nào có:



1. Hình thức đa dạng của giọng Ngọc Lan
2. Cách đổi giọng từ trầm qua cao vút và
3. Cách xướng nguyên âm (vocalize, vocaliser)



Một người bạn kể cho tôi nghe chuyện anh đi dự một concert ở Atlantic City, New Jork hồi đầu thập niên 90. Anh nói cả concert chỉ có một ca sĩ độc nhất là Ngọc Lan và anh nghĩ trong tất cả các ca sĩ VN chỉ có Ngọc Lan làm được chuyện đó nghĩa là trình diễn một mình trong suốt hơn 3 tiếng đồng hồ mà khán giả không những không chán mà còn theo dõi say mê và đòi hỏi cô hát thêm nhiều bài. Một ca sĩ có thể chỉ hát nhạc Phạm Duy, hoặc nhạc Trịnh Công Sơn trong một buổi trình diễn. Tôi rất ưa thích nhạc Phạm Duy và nhạc Trịnh Công Sơn nhưng chắc tôi khó có thể ngồi nghe một ca sĩ hát một loại nhạc hoặc nhạc của một tác giả trong vòng hai ba tiếng đồng hồ mà không ngáp. Trong khi đó Ngọc Lan hát đủ mọi loại nhạc và đủ mọi thể điệu. Thật khó có thể tưởng tượng một giọng hát "baby' như trong bản "Macumba" hoặc một giọng hát vui nhộn giật gân như trong "Stupid Cupid" lại có thể hát "Như Cánh Vạc Bay" một cách thánh thót, "Khúc Thụy Du" một cách buồn thảm day dứt hoặc "Khúc Mưa Sầu" ảo não như cầu kinh gọi hồn.



Ngọc Lan hát mọi thể điệu: bolero, cha cha cha, mambo, tango, lambada, twist, slow rock... nhưng phải nhận là rhumba/bolero hay slow rock hợp với giọng và lối ca của cô nhất. Không những hát được mọi thể điệu và đủ mọi loại nhạc Ngọc Lan còn có khả năng thay đổi giọng hát của mình. Cô dùng giọng mũi khi hát "Đọa Đày" (Prisoner), giọng óc trong "Thu Saigon" hay "Còn Yêu Em Không", hoặc giọng ngang ngang bất cần đời như trong "Phố Biển" hay "Ta Say".








Chúng ta biết Ngọc Lan hát trong ca đoàn nhà thờ và hát bè cao phái nữ (soprano). Bởi vậy hát giọng cao là sở trường của cô. Phải nghe cô hát giọng cao mới thật sự thấy rõ cái giọng "trời cho" của cô. Nghe bài "Tình Khúc Buồn" thấy cô lên giọng cao một cách dễ dàng. Đặc biệt cô có thể từ giọng trầm (contralto) nhảy 2,3 quãng 8 (octave) để hát giọng cao (soprano) như hai ca sĩ khác nhau. Hãy nghe bài "Revoir" hoặc bài "Vết Chân Hoang" để thấy điều tôi muốn nói. Hát như vậy không phải là chuyện dễ dàng ai cũng làm được.



Tôi nghĩ trong số các sĩ Việt Nam không ai xướng nguyên âm (vocalize, vocaliser) điêu luyện bằng Ngọc Lan. Kỹ thuật xướng nguyên âm của Ngọc Lan khi cô hát nhạc ngoại quốc thật là quyến rũ và đòi hỏi nhiều luyện tập. Khi nghe Ngọc Lan vocalize trong những bản nhạc ngoại quốc (chẳng hạn "Viens m'embrasser" (Lại Gần Hôn Em), "Người Tình Em Yêu", "Women in Love") tôi thấy cô vocalize không thua gi những ca sĩ ngoại quốc đã hát những bản nhạc đó. Trong "Liên Khúc Tình Yêu Số 2" Ngọc Lan đã vocalize hơn một phút, nghe tuyệt vời



Một điểm chót không thể không nói tới khi bàn về giọng Ngọc Lan đó là cô hát rất đúng nhịp. Nhạc phải đi với nhịp. Tân nhạc không phải là cải lương muốn cương sao cũng đươc. Nhiều ca sĩ đã hy sinh nhịp để vẽ vời uốn éo giọng của mình. Mỗi lần nghe ca sĩ nào hát sai nhịp dù chỉ sai nhịp 1 phần 10 giây tôi cũng thấy khó chịu và bực mình. Ngọc Lan có căn bản nhạc lý rất vững chắc. Hơn nữa cô hát trong vũ trường nên cần phải hát đúng nhịp nếu không khách khiêu vũ sẽ than phiền hoặc tẩy chay. Người nào đi khiêu vũ tại vũ trường chắc đôi lần đã gặp phải trường hợp những ca sĩ hát không đúng nhịp thành ra người khiêu vũ bị chân nọ đá chân kia hoặc đá hay dẵm vào chân của người khiêu vũ với mình. Việc Ngọc Lan hát trong ban hợp ca cũng có nhiều ảnh hưởng tới sự hát đúng nhịp của cô. Vì hát đúng nhịp những bản nhạc thể điệu bolero/rhumba do Ngọc Lan hat nghe rất nhịp nhàng và hấp dẫn.



Ngọc Lan không những là ca sĩ mà còn là tài tử điện ảnh, sân khấu. Hai cuốn băng "Như Em Đã Yêu Anh" và "Mặt Trời Bên Kia Mùa Hạ" cũng đủ để chứng minh điều đó. Không những có cái giọng sang trọng Ngọc Lan còn có cái dáng dấp, cái bề ngoài sang trọng và đài các. Lối trình diễn độc đáo của cô đã đi tiên phong trên phương diện trình bày nhạc trên sân khấu. Nhất cử nhất động đều nhịp nhàng, khoan thai, tự nhiên không gượng gạo kịch cỡm, nụ cười tươi như hoa (như trong "Joe le Taxi"), không gượng ép giả tạo trong những cuộc phỏng vấn. Tuy tôi không coi nhiều video của các hãng Mây Productions, Asia Entertainment và Thúy Nga Paris nhưng những video tôi coi cũng đủ cho tôi thấy không ai có lối trình diễn nhac như Ngọc Lan cả. Điển hình là những bài "Xin Thời Gian Ngừng Trôi", "Con Đường Tôi Về", "Về Đây Em"... Tôi ưa thích nhất "Con Đường Tôi Về" vì Ngọc Lan trông thùy mị đoan trang trong chiếc áo dài màu đen và với điệu bộ chân tay thật độc đáo. Tôi chưa thấy ca sĩ nào có lỗi trình diễn như vậy cả. Đôi khi Ngọc Lan chỉ dùng một cái liếc mắt cũng đủ để diễn tả điều cô muốn diễn xuất. Hãy coi "Hai Mươi Năm Tình Cũ" trong đó Ngọc Lan đóng vai một ca sĩ về chiều được người yêu cũ tới thăm khi đang tập dượt một bài hát. Trong cảnh cuối cùng khi người yêu cũ bỏ đi không một lời từ giã, cô chỉ liếc theo và khép lại đôi mắt, bộ mặt diễn tả một vẻ chịu đựng và cam phận.







Nhiều người than Ngọc Lan chỉ trình bày nhạc buồn và gương mặt lúc nào trông cũng buồn khi trình diễn thành ra làm cho người coi cảm thấy buồn bã chán đời. Trước hết đa số bản nhạc Việt Nam, khác với nhạc Âu Mỹ, mang tính chất buồn hay lãng mạn. Nghệ sĩ trình diễn những bản nhạc đó làm cho người coi cảm thấy buồn bã tức là đã thành công trong việc diễn xuất. Nếu để ý kỹ sẽ thấy sau mỗi lần trình diễn những bản nhạc buồn Ngọc Lan cười tươi rói khi chào tạm biệt khán giả. Đó là diễn xuất "at its best".



Nói tới nghệ thuật trình diễn của Ngọc Lan không thể không nói tới cách cô bắt chước cách hát và giọng hát của các ca sĩ ngoại quốc. Cái lối bắt chước đó là một hình thức diễn xuất.. Có lần tình cờ tôi nghe ca sĩ Pháp Elsa hát mấy chữ "nostalgie, nostalgia nostalgie que mifa" trong bản "Nostalgia" tôi tưởng Ngọc Lan hát. Vì hai giọng hát quá giống nhau ! Ngọc Lan có cái giọng ấm, ngọt ngào, pha "tý khàn đục" giống giọng Elsa thành ra khi nghe hát mấy chữ đó tôi không phận biết được.



Bắt chước đây không có nghĩa là bắt chước một giọng danh ca nào đó để làm thành giọng của mình. Bắt chước đây là tỏ ra khâm phục và kính trọng người đi trước. Ở Hoa Kỳ có người bắt chước Marilyn Monroe, Elvis Presley, Louis Amstrong... cũng như ở Pháp Mireille Mathieu bắt chước Edith Piaf hay Alain Barrière bắt chước Charles Aznavour. Ai cũng biết Mireille Mathieu và Alain Barrière có giọng và lối hát riêng biệt của họ nhưng họ bắt chước Edith Piaf và Charles Aznavour là để vinh danh hai người đó. Một tỉ dụ về nghệ thuật bắt chước giọng hát của Ngọc Lan, hãy nghe Ngọc Lan hát "Je Suis d'Accord", bài hát nổi tiếng đã được ca sĩ Pháp Francoise Hardy hát trong đầu thập niên 60. Hãy nghe cách Ngọc Lan hát dật dật và ngắt quãng (staccato) giống hệt cách Francoise Hardy hát!



Ngọc Lan không những hát tiếng Pháp, còn hát tiếng Mỹ, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Trung Quốc và nghe nói cả tiếng Nhật (nhưng tôi chưa được nghe). Cô hát tiếng nào cũng hay và trôi chảy. Hồi trước 1975 Việt Nam có một nữ ca sĩ hát nhạc Pháp cũng khá hay nhưng khi nghe cô hát tiếng Mỹ thì tôi nghe quê không chịu nổi. Cũng may cô đã không đi tới nghĩa là từ bỏ không hát tiếng Mỹ nữa.


Vì đa số nhạc ngoại quốc Ngọc Lan hát là nhạc Pháp nên tôi muốn bàn thêm về cách hát tiếng Pháp của Ngọc Lan. Tôi nhận thấy cô hát tiếng Pháp nghe rất đầm và "élégant". Phải nghe cô hát chung với các sĩ khác hay trong những liên khúc mới thấy cái giọng "đầm" đặc biệt của Ngọc Lan khi hát tiếng Pháp. Tôi phục nhất cách cô uốn lưỡi để hát phụ âm "r" hoặc phát các âm giọng mũi như "on", "in", "ien" vv..vv.. Có người than phiền Ngọc Lan hát tiếng Pháp nhiều khi nuốt chữ thành ra nghe không rõ. Tôi đồng ý là trong một vài bản nhạc Pháp tôi không nghe được hết các chữ cô hát nhưng không phải vì cô nuốt chữ nhưng hoặc vì thể điệu bài hát hoặc vì những nốt nhạc trầm nên khó bắt được hết các chữ cô hát. Có lần tôi cho một anh bạn coi Ngọc Lan hát bán " Khi Có Chàng (Je Ne Suis Que de l'Amour)" trong băng "Như Em Đã Yêu Anh". Anh ta than Ngọc Lan hát tiếng Pháp nuốt chữ nên nghe không rõ. Sau khi Ngọc Lan hát tôi cho anh ta nghe Nicole Croisille là người theo tôi biết đã hát bản đó đầu tiên. Anh ta cũng lắc đầu chịu thua, thú nhận nghe không bắt được hết các chữ Nicole Croisille hát.


Tuy say mê tiếng hát Ngọc Lan nhưng tôi không biết nhiều về Ngọc Lan. Tôi không biết Ngọc Lan bị bạo bệnh, tôi không hiểu tại sao cô biến mất từ sau năm 1998. Ngày cô qua đời tôi được một người bạn cho biết cô bị bướu óc (brain tumor) và đấy là tất cả vốn liếng tôi biết về Ngọc Lan.



Nhưng tình cờ trên Internet - cám ơn Internet - tôi được biết Ngọc Lan mang căn bệnh hiểm nghèo "Multiple Sclerosis" chứ không phải bướu óc và tôi được biệt nhiều chi tiết về Ngọc Lan qua các bài báo và bài viết về Ngọc Lan. Tôi tìm nghe và đọc các cuộc phỏng vấn Ngọc Lan để hiểu thêm về Ngọc Lan. Tôi đã khám phá ra con người Ngọc Lan. Tôi đã hiểu thêm nhiều về con người Ngọc Lan và tôi đã "mê" con người Ngọc Lan.


Vì "mê" con người Ngọc Lan tôi lại càng mê tiếng hát Ngọc Lan hơn.



Tôi có cái yếu điểm là "mê" đàn bà hiền hậu (hiền nhưng không đần độn, cù lần) bởi vậy làm sao tôi không "mê" Ngọc Lan được khi nghe Linh Muc chủ tế nói trong tang lễ Ngọc Lan: "Chị là một con người rất hiền lành...", hoặc nhạc si Nam Lộc trong phần phát biểu cảm tưởng về Ngọc Lan cũng trong tang lễ đó: "Tuy là một ngôi sao sáng Ngọc Lan lúc nào cũng là một người rất là khiêm nhường, khiêm tốn và hoa đồng với anh chị em nghệ sĩ. Không bao giờ cô tỏ ra ghen ghét ganh tị ...". hoặc nhà báo Trường Kỳ: ".... tính tình dịu dàng, khả ái và bản tính khiêm nhượng của cô,... tôi đã mệnh danh Ngọc Lan là một Công Nương Diana của nền tân nhạc Việt Nam hải ngoại. ...". Tôi còn đọc ở đâu đó có ai nói: "Cô sống một đời sống nữ tu...". Còn nhiều nữa... Đó là con người Ngọc Lan mà tôi "mê".



Sự thực bản tính hiền hậu chỉ là một phần, một khía cạnh của con người Ngọc Lan. Con người Ngọc Lan còn có nhiều đặc tính dễ mến, đáng yêu và đáng phục khác nhưng những đặc tính đó nằm ngoài phạm vi của bài viết này.



Có lẽ trong tất cả các cuộc phỏng vấn, cuộc phỏng vấn ảnh hưởng tới tình cảm của tôi với Ngọc Lan nhiều nhất là cuộc phỏng vấn Ngọc Lan dành cho nhà báo Việt Tiến. Trong cuộc phỏng vẫn này lần đầu tiên tôi nghe giọng thiệt của cô, một giọng thật dễ thương, truyền cảm và thật thà, Cô nói tự nhiên, thành thật, không hoa hòe hoa sói, không thêu dệt mỹ miều. "Lan dự định đi bán hamburger... được trả 35 đồng mà rất là "happy... ở nhà ăn cà với canh... lúc đầu hát có nhiều người nói Lan hát giống chị Thanh Lan" vv...vv.. đúng là giọng nói của một người khiêm nhượng và thành thật.



Trong cuộc phỏng vấn đầu tiên với nhạc sĩ Nam Lộc (sau khi hát bản "Mưa Trên Biển Vắng") để trả lời câu hỏi ai là mẫu người đàn ông lý tưởng của Ngọc Lan, cô đã đưa ra nhân vật Dũng trong tác phẩm Đoạn Tuyệt của Nhất Linh (cô nói lộn Khái Hưng). Nghe câu trả lời đó là tôi có thể đoán được phần nào lối sống của Ngọc Lan. "Sống âm thầm và kín đáo" như anh Nam Lộc nói trong tang lễ. Nghĩa là cô sống nhiều về nội tâm hơn là bề ngoài, không đua đòi không se sua, không ồn ào. Dũng trong Đoạn Tuyệt là một nhân vật tuy có học và có chí lớn nhưng trầm ngâm ít nói, không ba hoa chích chòe, đó là mẫu người đàn ông lý tưởng của Ngọc Lan và đó cũng là tiêu chuẩn qua đó tôi nhìn thấy con người Ngọc Lan.



Sau cùng... nhan sắc. Nhiều bạn trên trang này ngỏ ý muốn có ai viết về nhan sắc Ngọc Lan. Tiếc rằng tôi chưa bao giờ nhìn thấy Ngọc Lan bằng xương bằng thịt nên không đủ tư cách để viết về nhan sắc Ngọc Lan. Tôi chỉ thấy cô qua mấy cuốn băng video hoặc một vài tấm hình. Nhưng dựa trên những hình ảnh đó tôi thấy cô đúng là giai nhân với "bộ mặt trái soan, sống mũi dọc dừa, cặp mắt bồ câu". "bộ mặt trái soan, sống mũi dọc dừa, cặp mắt bồ câu". Tuy nhiên nhan sắc của Ngọc Lan là nhan sắc của một Grace Kelly chứ không phải nhan sắc của một Raquel Welch hoặc của một Jennifer Lopez hoặc của một Lưu Bích. Xin đừng ai hiểu lầm là tôi muốn nói Ngọc Lan đep như Grace Kelly. Đó chỉ là một cách nói nói đề so sánh hai thứ sắc đẹp. Nhan sắc Ngọc Lan là nhan sắc thùy mị đoan trang, mỏng manh, sang trọng và đài các. Nhìn thấy nhan sắc đó người ta ngưỡng mộ, kính trọng và muốn che chở.



Từ ngày Ngọc Lan lui vào bóng tối rồi qua đời đã có nhiều nhạc phẩm được sáng tác. Mỗi lần nghe một bản nhạc hay do một ca sĩ nổi tiếng hát tôi lại bùi ngùi và nghĩ: "Trời! Nếu Ngọc Lan không bị bạo bệnh và ra đi sớm, bản nhạc này mà được Ngọc Lan hát thì tuyệt vời biết bao !.." Thật là một mất mát lớn lao cho chúng ta, những người đã bị tiếng hát mật ngọt, liễu trai đó quyến rũ.



Nhưng cũng là một mất mát lớn lao cho nền Âm Nhạc Việt Nam.

Phạm Duy – cuộc đời và sự nghiệp

Phạm Duy – cuộc đời và sự nghiệp
Phạm Duy (sinh ngày 5 tháng 10 năm 1921) được xem như một trong những nhạc sĩ lớn nhất của tân nhạc Việt Nam, với số lượng sáng tác đa dạng và nhiều nhất Việt Nam. Bắt đầu sáng tác từ 1942, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, Phạm Duy viết khoảng hơn 1000 tác phẩm, trong đó nhiều bài đã rất quen thuộc với người Việt. Ngoài sáng tác nhạc, Phạm Duy còn viết một số sách, báo khảo cứu dân nhạc Việt Nam có giá trị, như cuốn Đặc khảo về dân nhạc Việt Nam. Ông từng giữ chức giáo sư khoa nhạc ngữ tại Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn.
Tiểu sử

Nhạc sĩ, tên thật là Phạm Duy Cẩn, xuất thân từ một gia đình văn nghiệp. Cha là Phạm Duy Tốn thường được xem như nhà văn xã hội đầu tiên của nền Văn học Mới hồi đầu thế kỷ 20. Anh là Phạm Duy Khiêm, giáo sư thạc sĩ, cựu Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Pháp, văn sĩ Pháp văn, tác giả những cuốn Légendes des terres sereines, Nam et Sylvie, De Hanoi à Lacourtine…
Sinh ngày 5 tháng 10 năm 1921 (5 tháng 9 năm Tân Dậu) tại phố Hàng Cót, Hà Nội. Phạm Duy học vỡ lòng tại trường Hàng Thùng, học tiểu học tại trường Hàng Vôi, học rất dốt và thường bị phạt. Đến khi 13 tuổi (1934) vào được lớp nhất, ông học giỏi lên dần, thành một trong những học sinh ưu tú của lớp, nhất là môn đọc thơ tiếng Pháp.
Năm 1936, vào học ở trường Thăng Long, một trọng điểm trong thời kỳ kháng chiến. Thầy dạy ông có ông Võ Nguyên Giáp, sau này là vị tướng nổi tiếng, còn trong đám bạn cùng lớp, có nhà thơ Quang Dũng.
Nhạc sĩ Phạm Duy thời còn theo gánh hát Đức HuyNăm 1940, nghe lời bè bạn, ông thi vào trường cao đẳng Mỹ thuật Đông dương, học thầy Tô Ngọc Vân, chung lớp với các ông Bùi Xuân Phái, Võ Lăng… nhưng ông không có năng khiếu nhiều và không ham vẽ cho lắm. Thời kỳ này ông ca hát nhiều hơn là vẽ tranh.
Năm 1942 ông có sáng tác đầu tay Cô hái mơ.
Năm 1944, ông thành ca sĩ hát tân nhạc trong gánh hát cải lương Đức Huy – Charlot Miều. Gánh hát này đưa ông đi rất nhiều miền trên đất nước, từ Bắc chí Nam, khiến ông mở mang tầm mắt, ngoài ra tự nhiên cũng trở thành một trong những nhân tố quan trọng trong việc phổ biến tân nhạc đến các vùng. Thời kỳ hát rong, Phạm Duy được gặp gỡ nhiều tên tuổi lớn như thi sĩ Lưu Trọng Lư, nhạc sĩ Lê Thương, Lê Xuân Ái, Văn Đông… và nhất là nhạc sĩ Văn Cao, người sau này trở thành bạn thân thiết.
Sau đó ông khởi sự con đường âm nhạc của mình với việc trở thành ca sĩ trong gánh hát Đức Huy, đi diễn lưu động từ Bắc qua Trung vào Nam trong những năm 1943-1945. Ông là người đầu tiên hát nhạc cải cách trên đài Radio Indochine ở Sài Gòn vào năm 1944, mỗi tuần trình bày 2 lần.
Năm 1945, xảy ra nạn đói, Phạm Duy rời nhà cũ đi lang thang nhiều nơi, sau đó ông theo kháng chiến. Trong thời Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Phạm Duy trở thành cán bộ văn nghệ của Việt Minh và là một trong những nhạc sĩ thành công nhất lúc đó. Thời kỳ này, bên cạnh tài năng được khen ngợi, thì xu hướng lãng mạn của Phạm Duy bị cho là tiêu cực, nhiều bài hát của ông bắt đầu bị xét duyệt, cấm đoán. Sau do không chịu sự quản thúc ngặt nghèo, ông đã rời bỏ Việt Minh về thành. Từ đó tác phẩm của ông bị cấm phổ biến trong vùng kiểm soát của Việt Minh, cũng như ở miền Bắc sau 1954 và trên cả nước sau ngày 30 tháng 4, 1975.
Năm 1949 ông lập gia đình với ca sĩ Thái Hằng.
Năm 1951, ông đem gia đình về Sài Gòn.
Năm 1953, ông qua Pháp học về âm nhạc, tại đây quen với giáo sư Trần Văn Khê. Về lại miền Nam, ông tiếp tục sáng tác và biểu diễn trong ban hợp ca Thăng Long. Nhạc Phạm Duy phổ biến rất rộng rãi ở miền Nam (mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng gọi là “bàng bạc khắp mọi nơi” [1] thời bấy giờ). Thời gian này ông có những hoạt động trong ngành điện ảnh, và đã gây nên một vụ tai tiếng lớn khắp từ Nam chí Bắc khi ngoại tình với người vợ của em vợ[2]. Ca sĩ Khánh Ngọc là vợ nhạc sĩ Phạm Đình Chương – người em vợ duy nhất của ông [3]
Sau sự kiện này, ông lại dính vào một vụ tình cảm nữa với Alice, con gái của một người tình cũ hồi năm 1944 tên Hélène. Tuy nhiên, ông khẳng định cả hai chuyện này đều là những tình cảm trong sáng: “Vì vấn đề chênh lệch tuổi tác cũng như vì tôi không muốn làm phiền những người chung quanh một lần nữa, tôi quyết định ngay từ lúc đầu rằng đây chỉ là một mối tình giữa hai tâm hồn mà thôi. Tôi cố gắng tránh mọi đụng chạm về xác thịt và tôi hãnh diện để nói rằng nàng vẫn là một trinh nữ khi rời xa tôi để bước chân lên xe hoa về nhà chồng. Là một nghệ sĩ, tôi cần tình yêu để sáng tác, giống như con người cần khí trời để thở. Tôi không cần phải chiếm đoạt ai cả, nhất là chiếm đoạt một người con gái còn ít tuổi. Giữa chúng tôi, không có ràng buộc, trói chặt nhau”. Ông đã viết nhạc và lời cho khá nhiều bài nhân chuyện này: Nụ Tầm Xuân, Thương Tình Ca, Chỉ Chừng Đó Thôi, Tìm Nhau, Cho Nhau.
Từ sau 30 tháng 4 năm 1975, ông và gia đình cư ngụ tại Thành phố Midway (Quận Cam), California.
Năm 1990, ông bắt đầu viết Hồi ký, khi hoàn tất chia làm 4 cuốn.
Năm 1999, vợ ông là bà Thái Hằng qua đời, sự kiện này khiến ông bị cao huyết áp phải đi nằm bệnh viện một thời gian dài. Sau năm này, lần đầu về thăm quê hương sau 25 năm lưu lạc, ông gặp gỡ nhiều bạn cũ trong đó có các nhà lãnh đạo cộng sản, gây nên nhiều dư luận khác nhau.
Tháng 5 năm 2005, ông trở về Việt Nam, mua nhà sống tại Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cùng các con trai Duy Quang (ca sĩ), Duy Cường. Tháng 7 cùng năm, có 9 nhạc phẩm của ông được phép lưu hành ở Việt Nam; tháng 11, được phép lưu hành thêm 10 tác phẩm nữa. Tính đến nay (tháng 8 năm 2007) đã có hơn 40 tác phẩm của Phạm Duy được phổ biến tại Việt Nam, tính cả các đoản ca trong Trường ca con đường cái quan.
Phạm Duy và Văn Cao
Phạm Duy là người đầu tiên đem ca khúc Buồn tàn thu của Văn Cao đi khắp mọi miền đất nước. Nhưng hai người thường được biết đến như là một đôi bạn thân thiết, có một tình bạn kéo dài nửa thế kỷ, dù đi theo hai con đường đối lập nhau. Hai người quen nhau tại Hải Phòng năm 1944. Trong hồi ký của mình, Phạm Duy tả về Văn Cao:
“Thấp bé hơn tôi, khép kín hơn tôi, nhưng Văn Cao tài hoa hơn tôi nhiều. Chắc chắn là đứng đắn hơn tôi. Lúc mới gặp nhau, anh ta chưa dám mày-tao với tôi, nhưng tôi thì có cái tật thích nói văng mạng (và văng tục) từ lâu, kết cục, cu cậu cũng theo tôi mà xổ chữ nho. Nhưng Văn Cao bản tính lầm lỳ, ít nói, khi nói thì bàn tay gầy gò luôn luôn múa trước mặt người nghe. Anh ta thích hút thuốc lào từ khi còn trẻ, có lần say thuốc ngă vào tay tôi. Về sau, anh còn nghiện rượu rất nặng.”
Hai người trở thành đôi bạn thân, thường giúp nhau sáng tác nhạc (bài Suối mơ, bài Bến xuân là hai người sáng tác chung) và ra vào những chốn ăn chơi, sau đó còn rủ nhau theo kháng chiến.
Đến năm 1949, Phạm Duy dinh tê về Nam còn Văn Cao ở lại với Quân cách mạng. Bị cấm liên lạc từ đó đến 1987, khi Phạm Duy ở Hoa Kỳ, Văn Cao ở Việt Nam, họ mới liên lạc với nhau được bằng thư tay, qua một số người Việt kiều. Hai người vẫn xưng hô mày, tao như hồi xưa. Sau này vợ chồng Phạm Duy và vợ chồng Văn Cao còn được nghe giọng nói, xem cử chỉ của nhau bằng tin nhắn qua băng Video do cô Nam Trân, một phóng viên truyền hình ở Hải ngoại giúp đỡ.
Ngoài ra ban điện ảnh của đài BBC ở Luân Đôn còn định thực hiện một phim về Văn Cao – Phạm Duy, mà họ gọi là hai chàng Lưu – Nguyễn thời nay, lấy cảm hứng từ bài hát Thiên Thai. Nhưng lúc này Phạm Duy đang bị cấm rất gắt tại Việt Nam, rồi Trịnh Công Sơn đă được mời thay Phạm Duy đóng phim này.
Năm 1995 Văn Cao mất, nhưng phải đến 2001 Phạm Duy mới viếng mộ được. Trong lần đầu trở lại quê hương, ông đă cầm một chai rượu rưới lên khắp mộ người bạn chí cốt.

Sự nghiệp

Thời kỳ tiền chiến
Năm 1942, khi còn đang hát cho gánh hát Đức Huy, Phạm Duy cho ra đời tác phẩm đầu tay là Cô hái mơ (phổ nhạc cho bài thơ Cô hái mơ của Nguyễn Bính). Năm 1944 đến bài hùng ca Gươm tráng sĩ, là bài hát đầu tiên ông viết cả lời lẫn nhạc.
Thời kháng chiến nam bộ (1945-1946) ông chơi thân với Văn Cao, ngoài việc cùng ra vào chốn ăn chơi, ông còn được Văn Cao giúp đỡ nhiều trong việc sáng tác. Những nhạc phẩm đầu tay của ông có nhiều hùng ca: Gươm tráng sĩ, Chinh phụ ca, Thu chiến trường, Chiến sĩ vô danh, nợ xương máu… Bên cạnh đó còn có nhạc tình lãng mạn, trong đó có nhiều bài giúp ông trở nên nổi tiếng: Cây đàn bỏ quên, Khối tình Trương Chi, Tình kỹ nữ, Tiếng bước trên đường khuya…
Năm 1947, Phạm Duy bắt đầu quan tâm đến dân ca. Ông muốn sáng tác nhạc âm hưởng dân ca để xâm nhập sâu vào chốn thôn quê hơn, từ đó cho ra đời nhiều bài mà ông gọi là “Dân ca mới”, rất được đông đảo quần chúng yêu thích: Nhớ người thương binh, Dặn dò, Ru con, Mùa đông chiến sĩ, Nhớ người ra đi, Người lính bên tê, Tiếng hát sông Lô, Nương chiều… Những bài này được ông sáng tác dựa trên 2 tiêu chí:
Nét nhạc vẫn dùng âm giai ngũ cung cố hữu nhưng áp dụng nhạc thuật chuyển hệ làm cho giai điệu không nằm chết trong một ngũ cung nào đó như trong dân ca cổ mà chạy dài trên nhiều hệ thống ngũ cung khác nhau;
Lời ca tuy nằm trong thể thơ lục bát, nhưng có nhiều khi được biến thể, do đó tiết điệu cũng theo âm tiết của lời ca mà trở nên phong phú hơn
Từ năm 1948, bên cạnh những bài có sắc thái tươi vui như: Gánh lúa, Đường ra biên ải… Ông có sáng tác thêm một thể loại mới: nói về sự đau khổ của những người sống trong chiến tranh. Những bài như: Bao giờ anh lấy được đồn tây (sau đổi thành Quê nghèo), Bà mẹ Gio Linh, Về miền Trung, Mười hai lời ru, Về miền Trung… đều có hình ảnh làng quê và người dân quê nghèo khổ.
Những bài hát này tuy được quần chúng yêu thích và phổ biến rất rộng rãi, nhưng do nói về sự bi, sự khổ mà Phạm Duy bắt đầu bị sự chỉ trích của cấp trên thời kháng chiến, ông bèn về miền nam để tự do sáng tác. Năm 1952, bài Tình hoài hương ra đời, khởi xướng cho xu hướng sáng tác “Tình ca quê hương”, sau đó là Tình ca, hai bài này được yêu thích từ Nam ra Bắc và nằm trong những tác phẩm tiêu biểu nhất nói về quê hương, với những câu như: “Quê hương tôi có con đê dài ngây ngất, lúc tan chợ chiều xa tắp, bóng nâu trên đường bước dồn, lửa bếp nồng, vòm tre non làn khói ấm hương thôn” (Tình hoài hương), “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi, mẹ hiền ru những câu xa vời, à à ơi ! tiếng ru muôn đời” (Tình ca).
Tiếp đó ông trở về thể loại dân ca mới với những bài Đố ai, Nụ tầm xuân, Ngày trở về, Người về, Tình nghèo… Bên cạnh đó là Thuyền viễn xứ, Viễn du nói về sự chia lìa quê hương. Bài Hẹn hò nói về sự ngăn chia đôi lứa, ông dùng nhạc ngũ cung giọng Huế. Ngoài ra còn có: Xuân ca, Dạ lai hương, Xuân thì… Năm 1954, ông chuyển từ nhạc tình ca quê hương sang tự tình dân tộc, soạn ra Bà mẹ quê, Em bé quê, Vợ chồng quê, trong đó có bài Em bé quê được trẻ con thuộc như bài đồng dao.
Thời chia đôi đất nước
Sau khi sang Pháp du học âm nhạc, ông sáng tác thêm được nhiều bài giá trị, ban đầu vẫn là “Dân ca mới”, lại có thêm nhiều tác phẩm ca ngợi tình yêu đôi lứa mà phổ biến nhất phải kể đến Đừng xa nhau, Ngày đó chúng mình, Tìm nhau…
Lúc này ông sáng tác tự do theo nhiều chủ đề, những bài hát như nói về tâm tưởng Chiều về trên sông, Một bàn tay, Tạ ơn đời, Đường chiều lá rụng, Nước mắt rơi… được Thái Thanh, Kim Tước, Quỳnh Giao thể hiện thành công; nhất là ca sĩ Thái Thanh, em của Thái Hằng, tên tuổi của bà đã gắn liền với những tác phẩm “Dân ca mới” và nhạc tình của Phạm Duy